Vuông tôm quảng canh là kiểu nuôi lâu đời và phổ biến nhất ở vùng mặn của Bạc Liêu cũ: một khu đất rộng được đắp bờ, đào mương, lấy nước triều vào; tôm sú thả với mật độ thấp, sống phần lớn nhờ thức ăn tự nhiên, nuôi chung với cua, cá kèo, cá đối, sò huyết hoặc các loài khác. Người nuôi thu tỉa quanh năm theo con nước, đầu tư ít, rủi ro mất trắng thấp hơn nuôi thâm canh.
Dạng “cải tiến” khác quảng canh truyền thống ở chỗ có thả thêm giống chọn lọc, cải tạo vuông kỹ hơn, quản lý nước chủ động hơn và đôi khi bổ sung thức ăn. Đây là mô hình mà nhiều hộ ở các xã như Định Thành, An Trạch, Long Điền, Gành Hào, Vĩnh Hậu và quanh Giá Rai đang làm, bên cạnh các trại công nghệ cao.
Bài viết mô tả cách vận hành theo nguyên lý; không kê thuốc, hoá chất và không nêu giá. Mật độ, lịch thả cụ thể nên tham khảo cán bộ khuyến nông tại xã.
Vuông tôm là gì và trông như thế nào
Người miền Tây gọi khu nuôi tôm quảng canh là “vuông”, dù hình dạng thực tế có khi không vuông chút nào. Một vuông có thể rộng từ một tới vài hecta, bao quanh bởi bờ đất cao, bên trong là trảng nước nông và hệ thống mương sâu chạy dọc bờ hoặc chia ô. Có cống hoặc bọng nối vuông với kênh bên ngoài để lấy nước vào và xả nước ra theo triều.
Nhìn từ trên cao, vùng nuôi quảng canh là những mảng nước nâu rộng, ít thiết bị, ít quạt nước, có chòi canh nhỏ ở góc vuông. Khác với ao thâm canh nhỏ, sâu, đầy máy móc, vuông quảng canh rộng, nông và tĩnh. Trong vuông có khi còn cây mắm, cây bần, dừa nước mọc trên bờ hoặc giữa vuông, tạo bóng mát cho tôm.
Vuông là một hệ sinh thái nhân tạo nhưng gần với tự nhiên: nước triều mang theo phù sa, sinh vật phù du, ấu trùng tôm cá tự nhiên vào vuông; tôm cá sống nhờ những thứ đó và nhờ tảo, mùn bã trong vuông. Người nuôi chủ yếu quản lý nước và giữ cho hệ này cân bằng, thay vì nuôi bằng thức ăn công nghiệp.
Những loài thường nuôi chung trong một vuông
Tôm sú. Loài chính, giá trị cao. Thả giống chọn lọc mật độ thấp, thường thả bổ sung nhiều đợt trong năm. Tôm sú lớn trong vuông quảng canh thường được thương lái ưa chuộng vì thịt chắc.
Cua biển. Thả cua giống vào vuông, cua tự kiếm ăn, lớn lên được thu bằng lú, rập. Cua cần bờ chắc vì hay đào hang, bò qua bờ. Nhiều hộ coi cua là nguồn thu quan trọng ngang tôm.
Cá kèo. Loài cá nhỏ sống ở bãi bùn nước lợ, quen thuộc trong bữa ăn miền Tây. Cá kèo nuôi trong vuông ăn mùn bã, tảo đáy, thu hoạch bằng cách tát hoặc đặt lưới.
Sò huyết và các loài nhuyễn thể. Ở những vuông có đáy bùn phù hợp, sò huyết được thả nuôi, sống bằng cách lọc nước. Sò giúp làm sạch nước phần nào và tạo thêm thu nhập.
Tôm, cá tự nhiên. Nước triều mang vào tôm đất, tôm bạc, cá đối, cá chẽm và nhiều loài khác. Người nuôi quảng canh truyền thống sống nhiều nhờ nguồn này, nay nguồn tự nhiên đã ít hơn trước.
Vận hành một vuông quảng canh cải tiến trong năm
Mỗi hộ có lịch riêng, nhưng khung chung thường như sau:
- Cải tạo vuông: đầu vụ, thường vào mùa khô, tháo cạn nước, sên vét bùn đáy mương, phơi đáy, gia cố bờ, sửa cống. Đây là bước quyết định vuông có “sạch” hay không.
- Lấy nước và xử lý: lấy nước qua lưới lọc để hạn chế cá tạp, cá dữ; xử lý theo hướng dẫn kỹ thuật; gây màu nước để có thức ăn tự nhiên.
- Thả giống: thả tôm sú đã ương hoặc giống có xét nghiệm; thả cua, cá, sò theo kế hoạch. Nhiều hộ thả tôm nhiều đợt, mỗi đợt cách nhau vài tuần hoặc vài tháng.
- Quản lý nước theo con nước: thay một phần nước vào dịp nước rong, giữ mực nước đủ sâu trong mùa nắng, theo dõi độ mặn khi mưa nhiều.
- Thu tỉa: đặt lú, đặt rập, xổ nước qua cống vào lúc nước ròng để bắt tôm, cua lớn. Thu tỉa diễn ra liên tục suốt năm, theo nhịp nửa tháng.
- Thả bù và cải tạo lại: khi lượng thu giảm, thả bù giống; sau một thời gian dài, tháo cạn cải tạo lại để làm sạch đáy.
Cái khéo của nghề nằm ở việc đọc vuông: nhìn màu nước, xem tôm cua bắt được nhiều hay ít, lớn hay nhỏ để quyết định thả thêm hay thay nước. Kinh nghiệm này thường được truyền trong gia đình qua nhiều thế hệ.
Quảng canh cải tiến và thâm canh: đặt cạnh nhau
So sánh ở mức nguyên lý để thấy mỗi mô hình hợp với ai:
| Tiêu chí | Quảng canh cải tiến | Thâm canh, công nghệ cao |
|---|---|---|
| Diện tích | Lớn, mật độ thấp | Nhỏ, mật độ cao |
| Thức ăn | Chủ yếu tự nhiên, bổ sung ít | Thức ăn công nghiệp hoàn toàn |
| Vốn và chi phí | Thấp | Cao đến rất cao |
| Năng suất trên mỗi hecta | Thấp | Cao |
| Rủi ro mất trắng | Thấp hơn, nhiều loài bù trừ | Cao khi dịch bệnh hay sự cố |
| Thu nhập | Đều đặn, nhỏ, thu tỉa quanh năm | Theo vụ, có thể lớn hoặc lỗ nặng |
| Tác động môi trường | Nhẹ, gần tự nhiên | Lớn nếu không xử lý nước thải |
Với hộ ít vốn, có đất rộng và muốn thu nhập ổn định, quảng canh cải tiến thường hợp hơn. Với người có vốn, kỹ thuật và chịu được rủi ro, thâm canh có thể cho lợi nhuận lớn hơn. Nhiều hộ làm cả hai: một góc đất làm ao thâm canh, phần còn lại giữ vuông quảng canh.
Những rủi ro của vuông quảng canh
Quảng canh không miễn nhiễm với dịch bệnh. Vì vuông lấy nước trực tiếp từ kênh chung, khi vùng xung quanh có ao tôm bệnh xả nước ra, mầm bệnh có thể theo nước vào vuông. Tôm sú trong vuông có thể chết rải rác hoặc hàng loạt. Thiệt hại thường nhỏ hơn ao thâm canh vì vốn ít, nhưng với hộ nghèo vẫn là mất mát lớn.
Thời tiết là rủi ro thứ hai. Nắng nóng kéo dài làm nước vuông nông nóng lên, độ mặn tăng cao; mưa lớn kéo dài làm độ mặn tụt đột ngột. Vuông nông, không có quạt nước, nên khó điều chỉnh nhanh. Hộ nuôi giỏi giữ mương sâu để tôm có chỗ trú, và chủ động lấy, thả nước theo thời tiết.
Rủi ro thứ ba là nguồn lợi tự nhiên giảm dần. Người cao tuổi ở vùng ven biển hay kể ngày xưa mở cống là tôm cá vào đầy vuông; nay lượng tôm cá tự nhiên ít hơn nhiều do khai thác quá mức, môi trường nước thay đổi. Vì vậy quảng canh truyền thống, chỉ trông vào nước triều, dần nhường chỗ cho quảng canh cải tiến có thả giống.
Hướng sinh thái: tôm quảng canh có chứng nhận
Những năm gần đây, nhiều chương trình khuyến khích nuôi tôm quảng canh theo hướng sinh thái, không dùng hoá chất, kháng sinh, có ghi chép nhật ký, để đạt các chứng nhận về nuôi có trách nhiệm hoặc hữu cơ. Tôm đạt chứng nhận có thể bán cho các nhà máy, nhà nhập khẩu với giá tốt hơn, nhất là ở các thị trường khó tính.
Điều kiện để đạt chứng nhận thường bao gồm: vùng nuôi rõ ràng, không lấn rừng phòng hộ, giống có nguồn gốc, không dùng chất cấm, có hồ sơ ghi chép, có tổ chức của người nuôi như hợp tác xã để quản lý chung. Một hộ đơn lẻ khó tự làm chứng nhận vì chi phí và thủ tục, nên đi theo nhóm là cách phổ biến.
Ở bán đảo Cà Mau, mô hình tôm – rừng và tôm quảng canh sinh thái đã có những vùng được chứng nhận từ khá sớm. Vùng Bạc Liêu cũ có điều kiện tương tự ở nhiều xã ven biển. Người muốn tìm hiểu nên liên hệ hợp tác xã nuôi tôm tại xã hoặc tra danh bạ doanh nghiệp của trang để thấy các đơn vị đang thu mua tôm chứng nhận.
Người mới nhận vuông nên biết gì
Thuê hoặc mua lại vuông tôm quảng canh là chuyện thường ở vùng này. Mấy điều người làm lâu năm hay dặn:
- Hỏi lịch sử vuông: mấy năm gần đây thu hoạch ra sao, có bị bệnh nặng không, lần cải tạo gần nhất là khi nào.
- Xem cống, bờ: cống có rò không, bờ có hang cua, chỗ sạt không; sửa trước khi thả giống.
- Xem nguồn nước: kênh cấp nước chung với những ao nào, có trại thâm canh xả thải gần đó không.
- Xem ranh giới: vuông có lấn vào rừng phòng hộ hay hành lang bờ biển không; phần lấn có thể bị thu hồi.
- Học từ hàng xóm: người nuôi xung quanh biết vùng nước ấy hơn mọi tài liệu; hỏi họ thả giống mùa nào, loài nào hợp.
- Bắt đầu thận trọng: năm đầu thả vừa phải, quan sát, ghi chép; đừng đổ hết vốn ngay vụ đầu.
Cây trong vuông: giữ bóng mát và giữ bờ
Ở nhiều vuông tôm quảng canh ven biển, người nuôi giữ lại cây mắm, cây bần, dừa nước trên bờ và cả trong vuông. Cây tạo bóng mát cho một phần mặt nước, giúp nước không quá nóng giữa trưa mùa khô; rễ cây giữ bờ khỏi sạt; lá rụng phân huỷ thành mùn, nuôi sinh vật nhỏ làm thức ăn cho tôm cua. Người làm nghề lâu năm hay nói vuông có cây thì tôm khoẻ, dù khó chứng minh bằng số liệu cho từng vuông.
Cây cũng có giá của nó: tán quá dày làm thiếu ánh sáng cho tảo, lá rụng quá nhiều làm đáy vuông thối, khó cải tạo. Vì vậy người nuôi giữ cây ở mức vừa phải, tỉa bớt khi cần, và thường giữ cây trên bờ nhiều hơn trong lòng vuông.
Ở các vùng giáp rừng phòng hộ, ranh giới giữa vuông tôm và rừng phải rõ ràng. Mở rộng vuông bằng cách chặt rừng phòng hộ là vi phạm và cũng tự làm hại mình, vì chính dải rừng ấy che chắn bờ bao của vuông trước sóng gió mùa khô. Mô hình hài hoà nhất là vuông nằm sau rừng, lấy nước qua những con rạch chảy qua rừng, nơi nước đã được rễ cây lọc bớt phù sa và mang theo nguồn giống tự nhiên.
Một chi tiết nhỏ nhưng thực tế: bờ vuông có cây là nơi người nuôi dựng chòi canh, treo võng nghỉ trưa, đặt lú ở chỗ nước chảy qua gốc cây. Cuộc sống của người giữ vuông xoay quanh vài gốc bần, gốc mắm ấy. Khi tư vấn cải tạo vuông, cán bộ khuyến nông thường khuyên giữ lại cây trên bờ thay vì phát quang sạch như ao thâm canh, vì vuông quảng canh sống nhờ chính sự gần gũi với tự nhiên.
Câu hỏi thường gặp
Nuôi tôm quảng canh có cần cho ăn không?
Quảng canh truyền thống gần như không cho ăn, tôm sống nhờ thức ăn tự nhiên. Quảng canh cải tiến có thể bổ sung một lượng nhỏ thức ăn ở giai đoạn đầu hoặc khi thức ăn tự nhiên ít. Cho ăn quá nhiều làm bẩn nước vuông vì vuông không có quạt nước như ao thâm canh.
Vì sao gọi là thu tỉa?
Vì người nuôi không thu một lần hết cả vuông mà bắt dần những con đã đủ lớn, để con nhỏ tiếp tục lớn. Thu tỉa thường làm theo con nước, khi xổ nước qua cống tôm theo dòng ra lú. Cách này cho thu nhập đều trong năm, phù hợp với hộ gia đình.
Cua trong vuông có trốn ra ngoài không?
Có, nếu bờ yếu hoặc có hang. Cua đào hang và bò rất giỏi, nhất là khi nước thay đổi hoặc vào mùa sinh sản. Người nuôi thường làm bờ chắc, rào lưới quanh bờ hoặc thả cua ở khu vực có rào riêng để hạn chế thất thoát.
Nuôi quảng canh có cần đăng ký không?
Cơ sở nuôi trồng thủy sản phải tuân theo quy định về đăng ký, kê khai tuỳ quy mô và đối tượng nuôi. Với nuôi tôm nước lợ, nhiều địa phương yêu cầu đăng ký hoặc xác nhận cơ sở nuôi. Nên hỏi Ủy ban nhân dân xã hoặc cơ quan thủy sản về yêu cầu hiện hành.
Tôm quảng canh có ngon hơn tôm thâm canh không?
Nhiều người địa phương cho rằng tôm sú quảng canh thịt chắc, ngọt hơn vì lớn chậm và ăn thức ăn tự nhiên. Đây là cảm nhận phổ biến, không phải kết luận khoa học chung. Chất lượng thực tế còn phụ thuộc cách thu hoạch, bảo quản và chế biến.
Một hộ cần bao nhiêu đất để sống bằng vuông quảng canh?
Không có con số chung vì thu nhập tuỳ năng suất, giá bán, số loài nuôi và chi phí từng năm. Nhìn chung quảng canh cần diện tích lớn hơn nhiều so với thâm canh để có cùng thu nhập. Nhiều hộ có vuông nhỏ phải làm thêm nghề khác hoặc kết hợp một ao nuôi thâm canh.