BacLieu.orgBạc Liêu
Con người, chùa chiền và lễ hội

Người Bạc Liêu: ba cộng đồng Kinh, Hoa, Khmer sống chung trên một vùng đất mới

Vùng Bạc Liêu cũ có người Kinh, người Hoa, người Khmer sống đan xen từ khi khai phá. Mỗi cộng đồng ở đâu, làm nghề gì, giữ lễ Tết nào và đã pha vào nhau ra sao.

Early morning river market on a wide canal, wooden boats loaded with vegetables and fish moored side by side, vendors in conical hats seen from behind, soft mist, eye-level view

Vùng Bạc Liêu cũ (nay là 5 phường và 19 xã thuộc tỉnh Cà Mau) là nơi ba cộng đồng chính sống chung: người Kinh đông nhất, ở khắp đồng ruộng, ven kênh và thị trấn; người Khmer sống lâu đời trên các giồng đất cao, quanh những ngôi chùa Nam tông; người Hoa, đông nhất là gốc Triều Châu, tập trung ở phố chợ và từng nắm nhiều mối buôn lúa gạo, muối, thủy sản.

Ba cộng đồng không chia vùng rạch ròi. Một con lộ ở Vĩnh Trạch hay Hưng Hội có thể đi qua xóm Kinh, sóc Khmer rồi tới tiệm tạp hoá của một nhà gốc Hoa. Người ta mời nhau ăn Tết của nhau, mượn tiếng của nhau, cưới gả qua lại. Bài này phác bức tranh chung đó: mỗi cộng đồng đến từ đâu, sống bằng gì, giữ lễ nào, và cái gì đã thành của chung người Bạc Liêu.

Một vùng đất khai phá muộn, nhiều lớp người đến sau

So với miền Đông hay vùng ven sông Tiền, sông Hậu, đất Bạc Liêu được khai phá muộn. Phần lớn là bãi bồi ven biển, giồng cát, trảng lác và rừng ngập mặn, nước lợ vào sâu trong mùa khô. Người Khmer có mặt trên các giồng đất từ trước khi người Việt đến đông; người Hoa theo đường thương mại vào từ các cửa biển và cửa sông; người Kinh tới theo nhiều đợt khẩn hoang suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nhất là khi người Pháp đào kênh xáng, mở đất làm lúa.

Mỗi lớp người mang theo một cách sống với đất. Người Khmer chọn giồng cao để dựng sóc và chùa, trồng lúa ở ruộng thấp chung quanh. Người Kinh bám theo kênh, đắp bờ, lập ấp dọc bờ kênh, sống bằng ruộng lúa, đìa cá và sau này là đầm tôm. Người Hoa dựng phố, mở vựa, lò, tiệm, làm cầu nối giữa ruộng đồng với tàu buôn đi Chợ Lớn và xa hơn.

Cái gọi là “người Bạc Liêu” hôm nay hình thành từ sự chồng lớp ấy. Không có một nhóm nào thuần một gốc suốt mấy đời; rất nhiều gia đình có ông bà thuộc hai, ba cộng đồng. Hiểu điều này giúp người mới đến tránh được câu hỏi vụng về kiểu “nhà anh là người gì”, vì câu trả lời thật thường dài hơn người hỏi tưởng.

Người Khmer: sóc, giồng và ngôi chùa ở giữa

Người Khmer ở vùng Bạc Liêu sống thành sóc — từ gốc Khmer chỉ làng xóm. Theo nhiều tài liệu địa phương, người Khmer tập trung đông ở khu vực Vĩnh Trạch, Vĩnh Trạch Đông (nay thuộc phường Vĩnh Trạch và phường Hiệp Thành), vùng Hưng Hội, Châu Thới của huyện Vĩnh Lợi cũ, và các xã Lộc Ninh, Ninh Quới của huyện Hồng Dân cũ (nay thuộc xã Hồng Dân và xã Ninh Quới). Con số cụ thể nên tra số liệu thống kê chính thức, vì mỗi nguồn tính một cách.

Trung tâm của sóc là ngôi chùa Nam tông. Chùa không chỉ là nơi tu hành mà còn là trường dạy chữ Khmer cho trẻ em, nơi họp bàn việc chung, nơi cất ghe ngo, nơi tổ chức Tết và các lễ trong năm. Nhiều thanh niên Khmer theo phong tục vào chùa tu một thời gian trước khi lập gia đình, học chữ, học lễ nghi, rồi mới hoàn tục.

Đời sống kinh tế của đồng bào Khmer ở đây gắn với lúa, với rẫy hoa màu trên giồng, với nghề làm công đầm tôm và gần đây là đi làm ở khu công nghiệp xa nhà. Tiếng Khmer vẫn được nói trong nhà và trong chùa; người lớn tuổi nói tiếng Việt giọng riêng, thế hệ trẻ thì nói hai thứ tiếng thành thạo.

Người Hoa: phố chợ, vựa lúa và câu ca dao quen thuộc

“Bạc Liêu nước chảy lờ đờ, dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.” Câu ca dao ai cũng thuộc ấy cho thấy dấu ấn của người Hoa gốc Triều Châu ở đất này. Ngoài người Triều Châu còn có người gốc Quảng Đông, Phúc Kiến, Hẹ, nhưng theo nhiều nhà nghiên cứu, Triều Châu là nhóm đông và để lại nhiều dấu vết nhất trong tiếng nói, món ăn và phố xá.

Thời thuộc Pháp, người Hoa ở Bạc Liêu nắm nhiều khâu trong chuỗi lúa gạo: thu mua, xay xát, chở ghe chở tàu lên Chợ Lớn. Nghề muối, nghề buôn khô cá, tôm khô cũng có nhiều gia đình người Hoa theo. Dãy phố cũ ở trung tâm phường Bạc Liêu, những ngôi miếu thờ Thiên Hậu, Quan Thánh, Phúc Đức Chính Thần là dấu vết của thời đó.

Ngày nay phần lớn người Hoa ở Bạc Liêu đã nói tiếng Việt như tiếng mẹ đẻ, chỉ người lớn tuổi còn nói tiếng Triều Châu trong nhà. Nhưng họ vẫn giữ các lễ của bang hội, Tết Nguyên tiêu, múa lân, và nhiều món ăn quen thuộc của cả vùng như hủ tiếu, bánh bao, lạp xưởng đều đi vào đời sống người Bạc Liêu qua bếp của các gia đình người Hoa.

Người Kinh: dân khẩn hoang ven kênh và nghề trên đồng

Người Kinh là cộng đồng đông nhất, đến từ nhiều ngả. Có lớp người từ các tỉnh miền Tây phía trên như Mỹ Tho, Bến Tre, Vĩnh Long cũ xuống khẩn đất; có lớp từ miền Trung theo ghe bầu vào làm ăn ven biển; có những đợt dân vào theo các con kênh đào thời Pháp. Mỗi lớp mang theo giọng nói, cách cúng giỗ, món ăn của quê cũ, rồi hoà vào nhau qua vài thế hệ.

Đời sống người Kinh ở Bạc Liêu chia theo hai vùng nước. Vùng ngọt phía bắc Quốc lộ 1 (Hồng Dân, Phước Long, một phần Vĩnh Lợi cũ) làm lúa, vườn, nuôi cá đồng. Vùng mặn lợ phía nam (Giá Rai, Đông Hải, Hòa Bình cũ, ven biển phường Hiệp Thành) nuôi tôm, làm muối, đi biển. Cách sống, lịch làm việc và cả chuyện ăn uống của hai vùng khác nhau khá rõ.

Ngôi đình làng là thiết chế chung của các ấp người Kinh: nơi thờ Thành hoàng, nơi họp làng ngày trước, nơi tổ chức lễ cúng đình hằng năm. Bên cạnh đó là chùa Bắc tông, các miếu bà, miếu ông, và ở vài nơi là các giáo xứ, trong đó giáo xứ Tắc Sậy ở xã Phong Thạnh mới (xã Tân Phong cũ) được biết đến rộng rãi nhất.

Ba cộng đồng nhìn qua những điểm dễ thấy

Bảng dưới đây không xếp hạng ai hơn ai mà chỉ giúp người mới đến nhận ra những dấu hiệu thường gặp khi đi qua các xóm, sóc, phố trong vùng.

Điểm nhìnNgười KinhNgười KhmerNgười Hoa
Nơi ở thường gặpDọc kênh, ruộng, thị trấnSóc trên giồng đất cao quanh chùaPhố chợ, trung tâm phường cũ
Công trình cộng đồngĐình làng, chùa Bắc tông, miếuChùa Nam tông có sala, tháp, hàng rào semaMiếu Thiên Hậu, Quan Thánh, ông Bổn, hội quán
Tết lớn trong nămTết Nguyên đánChôl Chnăm Thmây (giữa tháng 4 dương lịch)Tết Nguyên đán, Nguyên tiêu
Lễ đặc trưng khácCúng đình (Kỳ Yên), giỗ ông bàSene Đôlta, Ok Om BokVía Bà Thiên Hậu, cúng cô hồn tháng Bảy
Tiếng nói trong nhàTiếng Việt giọng Nam BộTiếng Khmer và tiếng ViệtPhần lớn tiếng Việt, người già còn tiếng Triều Châu

Mọi ô trong bảng đều là “thường gặp”, không phải quy luật. Có người Khmer theo đạo Công giáo, có gia đình người Hoa ăn Tết Khmer cùng hàng xóm, có người Kinh đi đua ghe ngo. Chính những chỗ “lệch bảng” ấy mới là đời sống thật của vùng đất này.

Những thứ đã thành của chung

Sống cạnh nhau hơn trăm năm, ba cộng đồng đã đổi cho nhau rất nhiều thứ mà ít ai để ý nguồn gốc. Bếp Bạc Liêu có bún nước lèo, bánh tằm, mắm bò hóc của người Khmer; có hủ tiếu, bánh pía, lạp xưởng của người Hoa; có canh chua, cá kho tộ, bánh xèo của người Kinh. Một mâm cơm gia đình bình thường có thể pha cả ba.

Lễ hội cũng thành của chung. Ngày Ok Om Bok, người Kinh, người Hoa kéo nhau đi xem thả đèn nước, đua ghe ngo. Tết Nguyên đán, nhiều nhà người Khmer cũng gói bánh tét, chưng mai. Mùa vía Quán Âm ở Nhà Mát, khách đến từ mọi cộng đồng. Tiếng nói cũng vậy: giọng Bạc Liêu có những từ gốc Khmer, gốc Triều Châu mà người nói không cần biết.

Trao đổi không có nghĩa là mọi khác biệt biến mất. Mỗi cộng đồng vẫn giữ những điều chỉ người trong cuộc làm: nghi thức trong chùa Nam tông, cách cúng ông bà của nhà người Hoa, việc tế lễ trong đình. Người ngoài đến dự được mời thì cứ dự, quan sát và hỏi han nhẹ nhàng, nhưng đừng tự ý làm thay hay chụp ảnh vào chỗ người ta đang hành lễ.

Đến vùng Bạc Liêu, nên biết điều gì để cư xử cho phải

Vào chùa Khmer, bỏ dép trước khi lên chính điện, ăn mặc kín đáo, không chạm vào đầu người khác kể cả trẻ nhỏ, phụ nữ không trao đồ trực tiếp vào tay sư mà đặt xuống hoặc nhờ người khác. Vào miếu người Hoa, đi cửa bên chứ không đi cửa giữa, không chỉ tay vào tượng. Vào đình ngày cúng, nếu không thuộc ban tế thì đứng ngoài xem, không đi ngang trước bàn lễ khi đang tế.

Khi gọi tên cộng đồng, dùng “người Khmer”, “đồng bào Khmer”, “người Hoa”, không dùng những cách gọi cũ mang ý coi thường mà đôi khi vẫn còn nghe ở chợ. Cũng tránh những câu đùa dựa vào định kiến dân tộc, dù người nói không có ý xấu. Ở vùng sống chung lâu đời, sự tôn trọng nằm ở những chuyện nhỏ như vậy.

Nếu muốn tìm hiểu sâu, cách tốt nhất là đi vào dịp lễ: Chôl Chnăm Thmây giữa tháng 4, Sene Đôlta cuối tháng 8 âm lịch, Ok Om Bok rằm tháng 10 âm lịch, mùa cúng đình đầu năm. Hỏi chuyện các vị achar trong chùa, các ông trong ban quý tế của đình, các cụ trong hội quán người Hoa, người ta thường vui lòng kể nếu thấy mình hỏi thật lòng.

Tôm, đi làm xa và những đổi thay của mấy chục năm gần đây

Bức tranh ba cộng đồng không đứng yên. Từ khi vùng mặn chuyển mạnh sang nuôi tôm, nhiều gia đình Khmer và Kinh nghèo ít ruộng đã bán hoặc cho thuê đất, chuyển sang làm thuê cho đầm tôm, cào tôm, giữ đầm ban đêm. Có gia đình khá lên nhờ tôm, có gia đình mất đất sau vài vụ thua lỗ. Sự phân hoá này cắt ngang cả ba cộng đồng chứ không theo ranh giới dân tộc.

Làn sóng đi làm xa còn lớn hơn. Thanh niên ở các xã thuần nông như Hồng Dân, Ninh Quới, Phước Long, Vĩnh Lộc lên Bình Dương cũ, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh làm công nhân, mỗi năm về quê một hai lần vào dịp Tết. Ở sóc Khmer, Tết Chôl Chnăm Thmây tháng 4 và Tết Nguyên đán là hai lần sóc đông đủ nhất; ngày thường, nhà nhiều khi chỉ còn ông bà giữ cháu.

Người Hoa thì phần đông đã chuyển ra các nghề dịch vụ, buôn bán ở thị trấn, thành phố, nhiều gia đình có con cháu định cư ở nơi khác. Hệ quả chung là những sinh hoạt cộng đồng như cúng đình, lễ chùa, hội quán ngày càng dựa vào người lớn tuổi. Khi đến dự lễ ở vùng này, bạn sẽ thấy rõ điều đó: hàng ghế đầu toàn tóc bạc, còn người trẻ chủ yếu về vào đúng ngày chính.

Câu hỏi thường gặp

Người Khmer ở Bạc Liêu có giống người Khmer ở Campuchia không?

Cùng gốc ngôn ngữ và nhiều phong tục, nhưng người Khmer Nam Bộ đã sống ở đồng bằng sông Cửu Long qua nhiều thế kỷ, có giọng nói, từ vựng và cách tổ chức lễ hội riêng. Họ là công dân Việt Nam, một trong 54 dân tộc, và tự nhận mình là người Khmer Nam Bộ.

Câu “trên bờ Triều Châu” có ý chê người Hoa không?

Không. Câu ca dao chỉ ghi lại một thực tế: người Hoa gốc Triều Châu buôn bán đông ở phố chợ Bạc Liêu ngày trước. Đây là câu tả cảnh, được người Bạc Liêu đọc với ý tự hào về một thị xã từng tấp nập. Vế “cá chốt” cũng là loài cá đồng rất quen của vùng.

Sau khi nhập vào Cà Mau, các lễ hội của đồng bào Khmer ở Bạc Liêu có còn tổ chức không?

Lễ hội gắn với chùa và cộng đồng, không phụ thuộc ranh giới tỉnh. Các chùa vẫn tổ chức Chôl Chnăm Thmây, Sene Đôlta, Ok Om Bok như trước. Những hoạt động do chính quyền đứng ra như giải đua ghe ngo, ngày hội văn hoá thì lịch có thể thay đổi, nên xem thông báo hằng năm.

Người Kinh ở Bạc Liêu phần lớn gốc từ đâu?

Rất đa dạng. Phần đông là con cháu các lớp dân khẩn hoang từ những tỉnh miền Tây phía trên và miền Đông Nam Bộ, một phần từ miền Trung đi ghe vào. Nhiều gia đình còn giữ gia phả hoặc nhớ quê gốc qua lời ông bà, nhưng sau vài thế hệ, giọng nói và nếp sống đã hoà thành giọng Bạc Liêu.

Có nơi nào giới thiệu tổng quát văn hoá ba dân tộc ở Bạc Liêu không?

Bảo tàng cấp tỉnh trước đây ở trung tâm Bạc Liêu có trưng bày về lịch sử, văn hoá các cộng đồng. Sau sáp nhập, việc tổ chức các thiết chế văn hoá có thể thay đổi, nên trước khi đến nên hỏi lại. Ngoài ra, chính các ngôi chùa Khmer lớn và hội quán người Hoa là nơi xem tận mắt tốt nhất.

Người ngoài có được dự cưới hỏi của người Khmer không?

Được, nếu được mời. Đám cưới Khmer truyền thống có nhiều nghi thức kéo dài, có phần do achar và sư chủ trì. Khách nên mặc lịch sự, đến đúng giờ, mừng phong bì như ở đám cưới người Kinh, và để ý làm theo người dẫn khi tới các nghi thức như cắt tóc, buộc chỉ tay.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.