Ở vùng Bạc Liêu cũ, nước mặn hay ngọt tuỳ theo vùng và theo mùa. Đại thể, phía nam quốc lộ 1, giáp biển, là vùng mặn – lợ quanh năm, nơi nuôi tôm và làm muối; phía bắc quốc lộ 1 nước ngọt hơn nhưng không đồng đều: có vùng ngọt chuyên trồng lúa, có vùng chuyển đổi mặn – ngọt theo mùa để làm tôm – lúa. Mặn lấn vào mạnh nhất trong mùa khô, thường cao nhất khoảng tháng 3 – 4.
Ranh giới này không hoàn toàn tự nhiên. Nó là kết quả của hàng chục năm đắp đê, đào kênh, xây cống ngăn mặn, rồi lại mở cống lấy mặn khi người dân chuyển sang nuôi tôm. Hiểu được lịch sử ấy thì mới đọc được vì sao hai thửa ruộng sát nhau, cùng một con kênh, có khi một bên trồng lúa, một bên nuôi tôm.
Các mức độ mặn nêu trong bài là mức tham khảo phổ biến; số đo cụ thể ở từng con kênh mỗi năm khác nhau và được cơ quan thủy lợi địa phương thông báo định kỳ trong mùa khô.
Nước mặn vào đất liền bằng đường nào
Nước biển không thấm qua đất mà theo sông, kênh ngược vào. Mỗi lần triều lên, nước biển đẩy ngược theo sông Gành Hào, theo các kênh rạch thông ra biển, theo kênh xáng chạy dọc quốc lộ 1. Khi triều rút, một phần nước mặn lui ra, một phần ở lại, trộn với nước ngọt từ trên đổ về. Mặn hay ngọt ở một điểm là kết quả của cuộc giằng co giữa nước biển đẩy vào và nước ngọt chảy ra.
Mùa mưa, nước ngọt từ mưa tại chỗ và từ sông Hậu dẫn về theo hệ thống kênh đủ mạnh để đẩy mặn lùi xa. Mùa khô, mưa dứt, nước ngọt từ thượng nguồn yếu đi, gió chướng lại đẩy nước biển vào sâu hơn, nên ranh mặn tiến dần vào đất liền. Vùng Bạc Liêu ở cuối nguồn nước ngọt của đồng bằng, xa sông Hậu, nên chịu thiệt nhiều hơn các vùng gần sông.
Một con đường nữa ít được để ý là nước ngầm. Khi giếng khoan hút nước ngầm tầng nông quá nhiều, nước mặn ở dưới hoặc từ phía biển có thể thấm vào tầng chứa, làm giếng nhiễm mặn dần. Đây là chuyện của nhiều năm chứ không phải một mùa khô.
Ba vùng nước ở Bạc Liêu: đọc theo bản đồ hành chính mới
Cách chia dưới đây là phác hoạ chung theo hướng quy hoạch quen thuộc của tỉnh cũ; ranh từng vùng có điều chỉnh theo thời gian và còn khác nhau giữa các ấp trong cùng một xã:
| Vùng | Nơi điển hình (tên mới) | Nước trong năm | Sản xuất chính |
|---|---|---|---|
| Vùng mặn – lợ ven biển | Phường Hiệp Thành, Xã Vĩnh Hậu, Xã Đông Hải, Xã Long Điền, Xã Gành Hào, phần phía nam Phường Giá Rai, Phường Láng Tròn, Xã An Trạch, Xã Định Thành | Mặn hoặc lợ quanh năm, mùa mưa nhạt bớt | Nuôi tôm các kiểu, muối, tôm giống, rừng ngập mặn |
| Vùng chuyển đổi mặn – ngọt | Xã Hồng Dân, Xã Ninh Quới, Xã Ninh Thạnh Lợi, Xã Vĩnh Lộc, Xã Phước Long, Xã Vĩnh Phước, Xã Vĩnh Thanh, Xã Phong Hiệp, Xã Phong Thạnh | Mùa khô lấy mặn vào ruộng, mùa mưa ngọt hoá | Tôm – lúa luân canh, lúa mùa đặc sản |
| Vùng ngọt | Xã Vĩnh Lợi, Xã Châu Thới, Xã Hưng Hội, phần phía bắc Xã Hòa Bình và các phường trung tâm | Ngọt phần lớn năm, được cống giữ ngọt | Lúa hai – ba vụ, rau màu, cây ăn trái |
Bảng gom theo đơn vị mới nên mỗi ô chỉ đúng cho phần lớn diện tích, không đúng cho từng ấp. Một xã có thể vừa có ấp chuyên lúa vừa có ấp nuôi tôm; muốn biết chắc một thửa đất thuộc vùng nào, nên xem quy hoạch sử dụng đất và hỏi cán bộ nông nghiệp ở xã.
Quốc lộ 1 thành ranh giới mặn – ngọt như thế nào
Quốc lộ 1 chạy xuyên vùng Bạc Liêu theo hướng đông bắc – tây nam, gần như song song với bờ biển và cách biển một khoảng không xa. Chạy dọc theo nó là kênh xáng Bạc Liêu – Cà Mau, đào từ thời Pháp. Khi các chương trình thủy lợi lớn ở bán đảo Cà Mau được triển khai, người ta tận dụng tuyến đường – kênh này cùng hệ thống cống để giữ ngọt cho phía bắc, chặn nước mặn từ phía biển.
Trong một thời gian dài, phía bắc quốc lộ 1 được định hướng ngọt hoá để trồng lúa, phía nam để mặn nuôi tôm và làm muối. Khoảng đầu những năm 2000, khi con tôm cho lợi nhuận cao hơn hẳn cây lúa, nhiều hộ phía bắc muốn đưa nước mặn vào ruộng. Chủ trương chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúc đó cho phép một phần vùng phía bắc chuyển sang nuôi tôm, cống được vận hành lại theo hướng cho mặn vào có kiểm soát.
Kết quả là ranh mặn – ngọt ngày nay không còn là một đường thẳng theo quốc lộ mà là một vùng đệm rộng. Đường quốc lộ vẫn là mốc dễ nhớ, nhưng thực tế ranh nằm ở các cống, các tuyến đê bao nội đồng, và ở lịch đóng mở cống mà ngành thủy lợi công bố mỗi mùa.
Mặn lên theo lịch nào trong năm
Tháng 12 – 1: mặn bắt đầu tăng. Mưa dứt, gió chướng lên, độ mặn ở kênh rạch vùng ven biển tăng dần. Vùng chuyển đổi bắt đầu lấy nước mặn vào ruộng sau khi thu hoạch lúa mùa.
Tháng 2 – 4: mặn cao nhất. Đây thường là đỉnh mặn của năm. Ở các kênh phía nam quốc lộ, nước có thể mặn gần như nước biển; ở một số kênh phía bắc, mặn cũng đủ cao để gây hại cho lúa nếu cống không giữ được. Năm hạn, đỉnh mặn tới sớm hơn và lấn sâu hơn.
Tháng 5 – 6: mưa rửa mặn. Những trận mưa đầu mùa làm nhạt nước mặt. Người làm tôm – lúa xả nước mặn khỏi ruộng, đợi mưa rửa đất rồi mới gieo mạ. Nếu mưa tới muộn, cả lịch thời vụ lùi theo.
Tháng 7 – 11: nước ngọt chiếm ưu thế. Mưa nhiều cộng nước ngọt từ hệ thống kênh đẩy mặn lùi về phía biển. Vùng ven biển vẫn lợ, nhưng nhạt hơn hẳn mùa khô; đây là lúc nuôi tôm ven biển phải tính tới chuyện độ mặn quá thấp.
Năm hạn mặn: những gì đã xảy ra ở đồng bằng
Các mùa khô 2015 – 2016 và 2019 – 2020 được nhắc tới nhiều nhất như hai đợt hạn mặn nghiêm trọng của đồng bằng sông Cửu Long trong khoảng chục năm gần đây. Trong những năm đó, nước mặn vào sớm hơn thường lệ, lấn sâu hơn vào các tỉnh ven biển, nhiều vùng lúa và vườn cây bị thiệt hại, nhiều nơi phải chở nước ngọt cho sinh hoạt.
Vùng Bạc Liêu cũ, nhờ đã quen sống với nước mặn và có nhiều diện tích nuôi tôm, chịu thiệt theo kiểu khác các tỉnh trồng cây ăn trái: tôm nuôi gặp độ mặn quá cao và nước nóng, lúa ở vùng chuyển đổi gặp mặn cuối vụ, còn hộ dân ở vùng xa thiếu nước sinh hoạt. Mức thiệt hại cụ thể từng năm được thống kê trong báo cáo của tỉnh cũ, không nêu lại ở đây vì số liệu khác nhau giữa các nguồn.
Bài học chung được ngành nông nghiệp nhắc lại sau mỗi đợt là xuống giống sớm để thu hoạch trước đỉnh mặn, trữ nước ngọt trong ao, mương vườn từ cuối mùa mưa, và theo dõi bản tin độ mặn chứ không chỉ dựa vào kinh nghiệm năm trước.
Đo độ mặn ở nhà: cách người làm ruộng tự theo dõi
Ở vùng này, đo mặn là việc thường ngày như xem trời. Cách làm phổ biến:
- Dùng khúc xạ kế cầm tay hoặc bút đo độ mặn điện tử, loại bán ở cửa hàng vật tư nuôi trồng thủy sản. Độ mặn thường ghi theo phần nghìn, viết tắt là ‰.
- Lấy nước ở giữa dòng kênh, cách mặt nước một gang tay, không lấy sát bờ vì nước ở bờ thường nhạt hoặc mặn bất thường do bốc hơi.
- Đo vào cùng một thời điểm trong ngày, tốt nhất là lúc triều lên cao, vì đó là lúc nước mặn vào sâu nhất.
- Ghi lại số đo theo ngày để thấy xu hướng tăng hay giảm, thay vì nhìn một con số lẻ.
- Đối chiếu với bản tin độ mặn do cơ quan thủy lợi hoặc khí tượng thủy văn phát trong mùa khô, nhất là trước khi lấy nước vào ruộng lúa hay vườn cây.
Với lúa, ngưỡng an toàn thường được khuyến cáo ở mức rất thấp, khoảng dưới 2 ‰ tuỳ giai đoạn và giống; với tôm sú, tôm thẻ, khoảng thích hợp rộng hơn nhiều. Ngưỡng cụ thể nên hỏi cán bộ khuyến nông vì còn tuỳ giống lúa và cách nuôi.
Người ở vùng mặn sống chung với nước mặn ra sao
Xâm nhập mặn không chỉ là chuyện ruộng đồng. Trong đời sống hằng ngày, người dân ven biển quen với những cách làm sau:
- Trữ nước mưa trong lu, bồn, bể chứa suốt mùa mưa để uống và nấu ăn trong mùa khô.
- Dùng nước máy ở những nơi đã có tuyến cấp nước tập trung; vùng xa vẫn dựa vào giếng khoan và nước mưa.
- Chọn cây trồng chịu mặn quanh nhà như dừa, bần, một số loại rau chịu mặn, thay vì cây ăn trái cần nước ngọt quanh năm.
- Rửa đồ kim loại bằng nước ngọt sau khi dùng nước kênh, vì muối làm sét rỉ máy bơm, xe máy, nông cụ rất nhanh.
- Theo dõi lịch đóng mở cống do địa phương thông báo nếu nhà ở vùng chuyển đổi, để biết khi nào nước ngoài kênh chuyển mặn.
- Xây nền nhà, chuồng trại cao hơn mực triều cường quen thuộc, vì nước mặn tràn vào sân vườn làm chết cây và ăn mòn chân tường nhanh hơn nước ngọt.
Những cách này không mới, ông bà ở vùng ven biển đã làm từ lâu. Điểm khác hiện nay là có thêm công cụ đo đạc, bản tin dự báo và tuyến nước máy, giúp người dân chủ động hơn thay vì chờ tới khi nếm thấy mặn mới biết.
Đất nhiễm mặn: vì sao ruộng lúa bị mặn khó hồi lại
Khi nước mặn tràn vào ruộng lúa và đọng lại, muối không chỉ nằm trong nước mà ngấm vào đất. Rút nước đi rồi, đất vẫn còn mặn; nắng lên, nước bốc hơi kéo muối lên mặt, có khi thấy cả lớp muối trắng mỏng trên bờ ruộng. Cây lúa gieo xuống lúc này dễ vàng lá, chậm lớn hoặc chết.
Cách duy nhất để đất hồi lại là rửa mặn bằng nước ngọt: cho nước mưa hoặc nước ngọt vào ngập ruộng, ngâm rồi xả ra, lặp lại vài lần. Đó là lý do người làm tôm – lúa luôn chờ vài trận mưa lớn đầu mùa mới xuống giống, và năm nào mưa trễ thì vụ lúa trễ theo. Ở đất có phèn, rửa mặn còn phải tính tới chuyện phèn bị khuấy lên, nên không phải cứ xả nhiều là tốt.
Với vườn cây ăn trái, mặn vào một lần có thể làm cây suy kiệt cả năm, thậm chí chết những cây lâu năm. Vì vậy ở vùng ven ranh mặn, người làm vườn đắp bờ bao kỹ, đặt bọng có cửa đóng chặt, và trữ sẵn nước ngọt trong mương vườn từ cuối mùa mưa để tưới qua đỉnh mặn.
Câu hỏi thường gặp
Nước mặn ở Bạc Liêu có ảnh hưởng tới nước máy không?
Nước máy ở các khu trung tâm lấy từ nguồn đã xử lý, phần lớn là nước ngầm tầng sâu, nên không mặn theo mùa như nước kênh. Vùng xa chưa có tuyến cấp nước mới chịu ảnh hưởng trực tiếp. Nếu thấy nước máy có vị lạ, nên báo đơn vị cấp nước tại địa phương để kiểm tra.
Độ mặn 4 phần nghìn là mặn cỡ nào?
Nước biển khơi mặn khoảng 30 – 35 phần nghìn, nên 4 phần nghìn là nước lợ nhạt, người uống thấy vị mặn rõ. Với cây lúa, mức này đã có thể gây hại ở nhiều giai đoạn sinh trưởng. Với tôm nuôi, đây lại là mức thấp, nhiều mô hình nuôi phải bổ sung khoáng.
Vì sao có năm mặn vào sớm hơn hẳn?
Thường do ba yếu tố chồng lên nhau: mùa mưa năm trước ít, lượng nước ngọt từ thượng nguồn sông Mê Kông về thấp, và gió chướng mạnh sớm. Những năm có hiện tượng El Niño hay đi kèm mùa khô gay gắt hơn. Dự báo mặn được cơ quan chuyên môn công bố từ đầu mùa khô.
Ở vùng ngọt có cần lo nước mặn không?
Có, trong năm hạn. Vùng ngọt được cống bảo vệ, nhưng khi cống phải đóng lâu, nước trong nội đồng cạn dần và có nơi nhiễm mặn qua rò rỉ. Người trồng lúa vùng này vẫn nên theo dõi bản tin độ mặn và lịch thời vụ khuyến cáo, nhất là vụ đông xuân.
Mới chuyển về vùng ven biển, có nên dùng nước kênh để tưới rau trong mùa khô không?
Ở vùng ven biển, nước kênh mùa khô thường quá mặn để tưới rau thông thường; tưới vào sẽ làm cây héo và đất bị mặn hoá. Nên đo độ mặn trước, ưu tiên nước mưa trữ hoặc nước giếng đã biết chất lượng.
Ranh mặn ngọt có thay đổi sau khi Bạc Liêu nhập vào Cà Mau không?
Sáp nhập hành chính không làm thay đổi dòng nước. Ranh mặn ngọt vẫn do hệ thống kênh, cống và quy hoạch sản xuất quyết định. Việc điều hành cống và quy hoạch vùng nay do tỉnh Cà Mau mới quản lý, nên các thông báo về mặn được phát theo tên tỉnh và tên xã mới.