Kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp là trục kênh lớn nối vùng Phụng Hiệp (Hậu Giang cũ) với Quản Lộ (Cà Mau cũ), đi ngang phía bắc vùng Bạc Liêu cũ, qua khu vực Ngã Năm rồi Phước Long. Kênh cùng hệ thống cống, đê đi kèm được xây dựng để dẫn nước ngọt từ sông Hậu về bán đảo Cà Mau và ngăn nước mặn từ biển Đông, phục vụ trồng lúa ở vùng vốn bị mặn hoành hành mỗi mùa khô.
Với người Bạc Liêu, cái tên Quản Lộ – Phụng Hiệp gắn với một câu chuyện lớn hơn con kênh: chuyện ngọt hoá, rồi chuyện chuyển sang nuôi tôm, chuyện cống đóng hay mở, ai được nước ngọt ai được nước mặn. Hiểu con kênh này là hiểu vì sao bản đồ sản xuất của vùng có hình dạng như hôm nay.
Những mốc thời gian và quy mô kỹ thuật dưới đây chỉ nêu ở mức chắc chắn; thông số chi tiết của từng cống, từng đoạn kênh nên tra trong tài liệu của ngành thủy lợi.
Một con kênh đào để làm gì
Bán đảo Cà Mau, gồm vùng Bạc Liêu, nằm xa sông Hậu, là nơi cuối cùng nước ngọt của sông Mê Kông có thể với tới. Trước khi có hệ thống thủy lợi lớn, đất ở đây phần nhiều chỉ làm được một vụ lúa mùa nhờ nước mưa; mùa khô ruộng bỏ trống, nước kênh mặn, nước sinh hoạt khan hiếm. Những con kênh đào thời Pháp như kênh xáng Bạc Liêu – Cà Mau chủ yếu phục vụ giao thông thủy và tiêu nước, chưa giải được bài toán mặn.
Ý tưởng của hệ thống Quản Lộ – Phụng Hiệp là mở một trục dẫn nước ngọt từ sông Hậu đi sâu vào bán đảo, đồng thời xây cống dọc các tuyến kênh thông ra biển để chặn mặn, chia vùng thành các ô được kiểm soát. Khi nước ngọt về tới nơi và mặn bị chặn lại, vùng phía bắc quốc lộ 1 có thể làm hai vụ lúa, thậm chí ba vụ, như các vùng gần sông Hậu.
Hệ thống được xây dựng qua nhiều giai đoạn trong khoảng thập niên 1990 tới đầu những năm 2000. Con kênh trục đi qua địa bàn Phước Long cũ, nay thuộc các xã Phước Long, Vĩnh Phước, Phong Hiệp, rồi tiếp về phía Cà Mau. Các tuyến kênh nhánh và cống phân bố khắp vùng phía bắc quốc lộ 1 của tỉnh cũ.
Cống ngăn mặn hoạt động như thế nào
Cống là cánh cửa giữa hai loại nước. Một cống ngăn mặn thường gồm thân cống bằng bê tông chắn ngang kênh, có cửa van nâng hạ hoặc cửa tự động đóng mở theo chênh lệch mực nước. Khi triều lên mang nước mặn, cửa đóng để chặn; khi cần tiêu nước hoặc lấy nước, cửa được mở theo lịch.
Vận hành theo con nước. Cán bộ quản lý cống theo dõi độ mặn hai bên và mực nước. Muốn lấy ngọt thì mở lúc nước bên trong thấp hơn và bên ngoài ngọt; muốn tiêu úng mùa mưa thì mở lúc triều rút để nước chảy ra biển. Mỗi lần mở đóng sai thời điểm có thể làm mặn tràn vào cả vùng lúa.
Không chỉ có cống lớn. Ngoài các cống chính trên trục kênh lớn, còn hàng trăm cống nhỏ, bọng, đập tạm trong nội đồng do xã và người dân quản lý. Nhiều trận mặn tràn vào ruộng lúa đến từ một cống nhỏ rò rỉ hoặc một bờ bao bị vỡ, chứ không phải từ cống lớn.
Cống cũng có giá của nó. Đóng cống lâu làm nước trong ô bị tù, ô nhiễm, phèn nổi lên; tôm cá tự nhiên không di chuyển được. Vì vậy vận hành cống là chuyện cân bằng chứ không phải cứ đóng chặt là tốt.
Ngọt hoá rồi lại mặn hoá: câu chuyện đầu những năm 2000
Khi nước ngọt về, nhiều vùng phía bắc quốc lộ 1 của Bạc Liêu chuyển sang làm lúa hai vụ. Nhưng cũng đúng giai đoạn đó, giá lúa thấp, trong khi con tôm sú đem lại thu nhập cao hơn nhiều lần. Nhiều hộ ở vùng giáp ranh tự đưa nước mặn vào ruộng, có nơi phá bờ, đào bọng để lấy mặn, gây xung đột với hộ trồng lúa bên cạnh.
Khoảng năm 2000 – 2001, chủ trương chuyển đổi cơ cấu sản xuất cho phép một phần vùng ngọt hoá được chuyển sang nuôi tôm hoặc tôm – lúa. Một số cống trên tuyến được vận hành lại để cho nước mặn vào có kiểm soát. Báo chí và giới nghiên cứu thời đó nói nhiều về sự “mâu thuẫn” giữa mục tiêu ngọt hoá ban đầu và nhu cầu nuôi tôm, về chuyện một công trình xây để chặn mặn nay lại phải dẫn mặn.
Nhìn lại, đó không hẳn là thất bại hay thành công đơn thuần. Hệ thống kênh và cống vẫn là xương sống điều tiết nước của cả vùng, chỉ là mục tiêu đã chuyển từ “ngọt hoá toàn bộ” sang “chia vùng mặn – lợ – ngọt và điều tiết theo mùa”. Mô hình tôm – lúa ở Hồng Dân, Phước Long ngày nay là sản phẩm trực tiếp của cuộc điều chỉnh ấy.
Các tuyến kênh người Bạc Liêu hay nhắc
Bên cạnh trục Quản Lộ – Phụng Hiệp, vùng Bạc Liêu có mạng kênh dày đặc. Bảng dưới chỉ gồm vài tuyến quen tên, mô tả theo chức năng chung:
| Tuyến | Hướng chạy (khái quát) | Vai trò thường nhắc |
|---|---|---|
| Kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp | Từ phía Hậu Giang cũ qua Ngã Năm, Phước Long về Cà Mau | Trục dẫn ngọt, giao thông thủy liên vùng |
| Kênh xáng Bạc Liêu – Cà Mau | Chạy dọc theo quốc lộ 1 từ Bạc Liêu qua Giá Rai về Cà Mau | Giao thông thủy lâu đời, tuyến ranh giữ ngọt phía bắc |
| Sông Gành Hào | Chảy ra biển ở cửa Gành Hào, phía tây nam vùng Bạc Liêu | Cửa ngõ ra biển của tàu cá, đường mặn vào nội đồng |
| Các kênh nội đồng vùng Hồng Dân, Phước Long | Đan dọc ngang giữa các ô ruộng | Dẫn và tiêu nước cho ruộng tôm – lúa, đi lại bằng xuồng |
Tên kênh ở đồng bằng nhiều khi có hai, ba cách gọi (tên chính thức, tên dân gian, tên theo người đào). Khi hỏi đường hay hỏi nước, nên hỏi theo tên mà người địa phương đang dùng.
Kênh và cống ảnh hưởng tới đời sống thường ngày
Với người sống dọc kênh, con kênh trước hết là đường đi. Trước khi đường bộ về tới từng ấp, xuồng ghe trên Quản Lộ – Phụng Hiệp và kênh xáng là cách chở lúa, chở tôm, đi chợ, đi học. Ngày nay đường bộ đã tốt hơn nhiều, nhưng ghe chở vật tư, chở lúa vẫn chạy trên kênh, và một số chợ ven kênh vẫn họp theo con nước.
Cống cũng chi phối đường thủy: khi cống đóng, ghe phải chờ hoặc vòng đường khác; cống lớn thường có âu thuyền hoặc giờ mở cho ghe qua. Người làm nghề chở ghe thuộc lòng lịch đóng mở như người lái xe thuộc giờ cấm đường.
Trong mùa khô, chuyện cống còn là chuyện hàng xóm. Một hộ muốn lấy nước mặn vào vuông tôm, hộ bên cạnh đang có lúa sắp trổ cần giữ ngọt. Nhiều ấp có tổ hợp tác hoặc tổ thủy lợi để thống nhất lịch lấy nước, tránh mỗi nhà mở một kiểu. Người mới mua đất hoặc thuê đất làm ruộng ở vùng chuyển đổi nên hỏi kỹ tổ này trước tiên.
Những tranh luận còn lại quanh hệ thống thủy lợi
Đến nay, hệ thống kênh – cống vùng bán đảo Cà Mau vẫn là đề tài thảo luận của giới thủy lợi và nông nghiệp. Mấy điểm hay được nêu:
- Ô kín và chất lượng nước. Ô thủy lợi khép kín giúp giữ ngọt nhưng làm nước tù, phèn và chất thải tích tụ, nhất là khi ô có nhiều ao nuôi.
- Phù sa không vào đồng. Cống chặn mặn cũng chặn bùn phù sa, nên đất trong ô không được bồi như xưa.
- Sụt lún và nước ngầm. Khi nước mặt không đủ ngọt, người dân khoan giếng lấy nước ngầm; khai thác nhiều làm đất sụt lún, theo cảnh báo chung cho đồng bằng.
- Thích ứng thay vì chống. Hướng tiếp cận gần đây của ngành nông nghiệp vùng đồng bằng thiên về sống chung với mặn: chia vùng sinh thái, coi nước mặn là tài nguyên cho tôm, thay vì cố ngọt hoá mọi nơi.
- Quản lý sau sáp nhập. Từ 7/2025, các công trình trên địa bàn Bạc Liêu cũ thuộc quyền quản lý của tỉnh Cà Mau mới, nên việc điều hành liên vùng với phần Cà Mau cũ có thể thuận hơn vì cùng một tỉnh.
Đây là những vấn đề còn đang được nghiên cứu và điều chỉnh; bài chỉ nêu các luồng ý kiến chính, không đánh giá công trình nào đúng hay sai.
Đọc tin về cống và kênh cho đúng
Mỗi mùa khô, trên báo địa phương và loa phát thanh xã thường có thông báo kiểu “đóng cống X từ ngày… để giữ ngọt” hoặc “mở cống Y lấy nước mặn phục vụ nuôi tôm”. Thông báo thường ghi tên cống theo tên kênh hoặc tên ấp, nên người không quen sẽ khó hình dung. Cách nhanh nhất là hỏi người trong ấp: cống đó gần chỗ nào, nước bên này kênh hay bên kia kênh.
Khi đọc tin về dự án kênh, đê, cống mới, nên phân biệt ba thứ: dự án đã được phê duyệt chủ trương, dự án đang thi công và công trình đã vận hành. Ba trạng thái này cách nhau nhiều năm, và không ít dự án thủy lợi ở đồng bằng phải điều chỉnh thiết kế giữa chừng.
Từ khi bỏ cấp huyện, các thông báo không còn ghi “huyện Phước Long”, “huyện Hồng Dân” mà ghi tên xã mới. Người quen nghĩ theo huyện cũ nên đối chiếu: vùng Phước Long cũ nay gồm Xã Phước Long, Xã Vĩnh Phước, Xã Vĩnh Thanh và Xã Phong Hiệp; vùng Hồng Dân cũ gồm Xã Hồng Dân, Xã Ninh Quới, Xã Ninh Thạnh Lợi và Xã Vĩnh Lộc.
Kênh xáng: chữ “xáng” và những con kênh đào bằng máy
Người miền Tây gọi nhiều con kênh là “kênh xáng”, như kênh xáng Bạc Liêu – Cà Mau. Chữ “xáng” chỉ chiếc máy đào, máy nạo vét lòng kênh mà người Pháp đưa vào đồng bằng từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Kênh do xáng múc thì thẳng, sâu và rộng hơn hẳn những con rạch tự nhiên ngoằn ngoèo hay kênh đào bằng tay.
Những con kênh xáng thời ấy mở ra để chở lúa gạo từ vùng mới khai phá về các cảng lớn, đồng thời tiêu nước cho đất trũng. Đất đào lên đắp thành bờ, bờ thành đường, dân theo bờ kênh mà dựng nhà, lập chợ. Nhiều thị trấn, chợ quê của vùng Bạc Liêu mọc lên từ những ngã ba kênh như vậy, và đến nay nhà cửa vẫn quay mặt ra kênh nhiều hơn ra đường.
Kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp ra đời muộn hơn rất nhiều, với mục tiêu khác: dẫn ngọt và điều tiết mặn. Nhưng nó kế thừa cùng một tư duy của đồng bằng: muốn khai thác đất thì phải làm chủ nước trước. Khi đọc lịch sử vùng này, có thể coi các con kênh là những dòng thời gian chạy ngang mặt đất, mỗi thời đại để lại một lớp.
Câu hỏi thường gặp
Kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp dài bao nhiêu?
Các tài liệu thường mô tả đây là trục kênh dài hơn một trăm cây số, xuyên qua địa phận nhiều tỉnh cũ ở bán đảo Cà Mau. Con số chính xác khác nhau tuỳ cách tính điểm đầu, điểm cuối và các đoạn nắn dòng, nên khi cần số liệu cho văn bản nên tra trong tài liệu của ngành thủy lợi.
Tên Quản Lộ và Phụng Hiệp chỉ nơi nào?
Phụng Hiệp là địa danh ở vùng Hậu Giang cũ, nổi tiếng với ngã bảy sông, nơi đầu kênh nhận nước ngọt. Quản Lộ là địa danh ở vùng Cà Mau cũ, phía cuối trục kênh. Tên kênh ghép hai đầu lại, theo lối đặt tên phổ biến của các công trình kênh đào ở đồng bằng.
Vì sao nói nước ngọt về Bạc Liêu khó hơn các tỉnh khác?
Vì vùng Bạc Liêu ở cuối hệ thống, xa sông Hậu. Nước ngọt phải đi qua nhiều tỉnh, được dùng dọc đường, tới đây thì lưu lượng còn ít, nhất là mùa khô. Trong khi đó, bờ biển phía đông lại có triều mạnh đẩy mặn vào, nên giữ ngọt tốn công hơn hẳn.
Ai quyết định đóng hay mở cống?
Cống lớn do đơn vị quản lý công trình thủy lợi cấp tỉnh vận hành theo kế hoạch được phê duyệt và tình hình độ mặn thực tế. Cống nhỏ trong nội đồng thường do xã, hợp tác xã hoặc tổ thủy lợi quản lý. Người dân có ý kiến thì phản ánh qua ấp, xã để được xem xét chung.
Có đi ghe dọc kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp để tham quan được không?
Không có tuyến tàu khách du lịch cố định phổ biến trên kênh này. Ghe chủ yếu chở hàng, chở nông sản. Muốn đi đường thủy để xem cảnh, nên hỏi thuê ghe của người địa phương, chọn đoạn ngắn, đi ban ngày và mặc áo phao, tránh lúc nước chảy xiết qua cống.
Kênh xáng Bạc Liêu – Cà Mau với Quản Lộ – Phụng Hiệp có phải một không?
Không. Kênh xáng Bạc Liêu – Cà Mau là kênh đào thời Pháp chạy dọc gần quốc lộ 1, nối thị xã Bạc Liêu xưa với Cà Mau. Kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp chạy xa hơn về phía bắc, theo hướng khác, phục vụ chủ yếu dẫn nước ngọt. Hai tuyến cắt nhau qua mạng kênh nội đồng.