Rừng phòng hộ ven biển Bạc Liêu là dải rừng ngập mặn chạy dọc bờ biển phía đông, nằm giữa bãi bồi và đê biển, chủ yếu gồm mắm ở phía ngoài và đước, bần, dà cùng các loài cây ngập mặn khác phía trong. Nhiệm vụ chính của nó là giảm sóng, giữ bùn, che chắn đê biển và vùng sản xuất phía sau; nó cũng là nơi sinh sản của tôm cá, cua, chim.
Đai rừng này không rộng như rừng đước Cà Mau, có đoạn chỉ còn vài chục mét, có đoạn rộng hàng trăm mét. Nhưng với một bờ biển bùn đang chịu sạt lở, mỗi mét rừng đều có giá trị thực tế: đó là khoảng đệm giữa sóng biển Đông và đồng ruộng, nhà cửa.
Rừng phòng hộ là rừng do nhà nước quản lý với quy định bảo vệ riêng; bài chỉ nêu các nguyên tắc chung, chi tiết về quyền và nghĩa vụ của người nhận khoán cần xem văn bản hiện hành.
Những cây chính trong đai rừng ven biển
Mắm. Cây tiên phong của bãi bồi, mọc ở ngoài cùng nơi bùn còn non và ngập mỗi con nước. Mắm có rễ thở nhô lên khỏi bùn như hàng nghìn chiếc đũa nhỏ, giúp cây sống được trong bùn thiếu khí và đồng thời giữ bùn lại. Nhìn từ biển vào, mắm là lớp cây thấp, tán xám xanh đầu tiên.
Đước. Mọc phía sau mắm khi bãi đã cao và chắc hơn. Đước nhận ra ngay nhờ bộ rễ chống hình vòng cung xoè ra từ thân, đứng như chân nhện trên bùn. Thân thẳng, gỗ cứng, từng là nguồn củi, than và cột nhà quan trọng của vùng ven biển.
Bần. Thường gặp ven sông, ven kênh lợ và những chỗ nước nhạt hơn. Bần có rễ thở hình nón, trái tròn dẹt, chua, được dùng nấu canh, làm mắm. Bần là cây quen thuộc trong ca dao, trong ký ức người miền Tây.
Dà, vẹt và các loài khác. Tuỳ đoạn bờ còn có dà, vẹt, cóc kèn, ô rô, chà là và dây leo ven rừng. Thành phần loài thay đổi theo độ mặn, độ cao bãi và tuổi rừng; những tên cụ thể ở từng đoạn nên hỏi cán bộ quản lý rừng.
Dừa nước. Không phải cây rừng phòng hộ biển, nhưng mọc dày dọc sông rạch lợ phía trong. Lá dừa nước dùng lợp nhà, bờ dừa nước giữ bờ kênh rất tốt.
Rừng giữ bờ bằng cách nào
Sóng mang năng lượng. Khi sóng đi qua một khu rừng ngập mặn, mỗi thân cây, mỗi chùm rễ cản nước một chút, làm sóng mất dần sức. Các nghiên cứu về rừng ngập mặn trên thế giới cho thấy một dải rừng đủ rộng và dày có thể làm chiều cao sóng giảm đáng kể sau vài trăm mét. Đê đất phía sau vì thế chỉ phải chịu sóng nhỏ.
Cơ chế thứ hai là giữ bùn. Nước đi vào rừng bị chậm lại, phù sa lơ lửng có thời gian lắng xuống giữa các rễ. Mỗi con nước bồi thêm một lớp mỏng, năm này qua năm khác, mặt bãi trong rừng cao dần. Rừng vì thế không chỉ chắn sóng mà còn tự nâng mặt đất dưới chân mình.
Cơ chế thứ ba là rễ cây đan kết làm đất chắc hơn, khó bị dòng chảy cuốn đi. Khi rừng bị chặt, gốc rễ mục dần, đất mất chỗ bám, chỉ vài mùa gió chướng là bãi bị bào. Đó là lý do mất rừng thường đi trước sạt lở, và vì sao trồng lại rừng là biện pháp được nhắc tới trong mọi phương án giữ bờ.
Rừng tự mọc trên bãi bồi theo trình tự nào
Ở những đoạn bờ còn được bồi, có thể thấy cả quá trình rừng hình thành chỉ trong một lần đi dọc đê. Trình tự quen thuộc như sau:
- Bãi bùn trần. Bùn mới lắng, ngập sâu mỗi con nước, chưa có cây; chỉ có còng, cua, cá thòi lòi.
- Mắm con xuất hiện. Trái mắm trôi theo nước, mắc lại trên bãi đủ cao, nảy mầm. Những cây đầu tiên thưa thớt, thấp.
- Rừng mắm khép tán. Rễ thở dày đặc giữ bùn, bãi cao lên nhanh hơn. Sau vài năm thành dải mắm xanh.
- Đước và cây khác vào. Khi bãi trong rừng mắm đủ cao, ít ngập hơn, trụ mầm đước rơi xuống có thể sống. Rừng hỗn giao dần hình thành.
- Rừng già phía trong. Gần đê là phần rừng lâu năm, cây lớn, nền đất cao, chỉ ngập khi triều cường.
Ở đoạn bờ bị lở, trình tự chạy ngược: mắm ngoài cùng đổ trước, rồi tới đước. Nhìn vào lớp cây đang chết hay đang mọc ở bìa rừng là đoán được đoạn bờ đó đang bồi hay đang lở.
Vì sao trồng lại rừng ngập mặn khó hơn tưởng
Nhiều đợt trồng rừng ven biển đồng bằng ghi nhận tỉ lệ cây sống thấp. Lý do chính là trồng ở nơi bãi còn quá thấp: cây non ngập quá lâu mỗi con nước, bị sóng nhổ bật hoặc bùn vùi lấp. Mắm, đước tự nhiên chỉ mọc ở độ cao bãi nhất định; trồng thấp hơn ngưỡng đó thì công sức đổ xuống bùn.
Vì vậy cách làm được khuyến nghị hiện nay là tạo bãi trước, trồng cây sau. Hàng rào tre, cừ tràm hoặc cấu kiện bê tông được đặt ngoài bãi để giảm sóng, giữ bùn. Khi phía sau rào bãi đã cao lên đủ, người ta mới trồng mắm, đôi khi chỉ cần để trái mắm tự trôi vào và mọc. Chọn đúng loài cho đúng độ cao bãi cũng quan trọng: trồng đước ở chỗ chỉ hợp với mắm thì cây khó sống.
Một khó khăn khác là chăm sóc sau trồng: hà bám thân cây non, rác và lưới trôi dạt quấn cây, gia súc hoặc người dân vô tình giẫm, nhổ. Các dự án thành công thường có người dân địa phương được giao giữ, có trả công và gắn quyền lợi, thay vì chỉ trồng xong rồi bỏ đó.
Sinh vật dưới tán rừng và trên bãi
Rừng ngập mặn là vườn ươm của biển. Tôm, cá con, cua theo nước vào trú trong rễ cây, ăn mùn bã lá mục rồi lớn lên mới ra biển. Nhiều loài thủy sản mà người ven biển đánh bắt hằng ngày phụ thuộc vào những dải rừng như thế này, kể cả khi chúng được bắt ở ngoài khơi.
Trên bãi và trong rừng có còng, ba khía, cua, cá thòi lòi, cá kèo, ốc len, sò. Trên tán có cò, diệc, bói cá và nhiều loài chim nước khác kiếm ăn theo con nước. Ở vùng Bạc Liêu, nơi có quần thể chim đông đúc và được biết đến rộng rãi là khu vườn chim gần trung tâm Phường Bạc Liêu, một khu rừng được bảo tồn từ lâu; dọc đai rừng ven biển cũng có thể gặp chim kiếm ăn vào sáng sớm và chiều tối.
Khai thác thủy sản trong rừng phòng hộ phải theo quy định của đơn vị quản lý. Những hình thức như dùng xung điện, hoá chất, lưới mắt nhỏ cào sạch bãi bị cấm vì phá huỷ cả nguồn giống. Người đi rừng ngắm chim nên giữ khoảng cách, không leo lên tổ, không bắt chim non.
Rừng phòng hộ và quyền lợi của người dân sống quanh rừng
Rừng do nhà nước quản lý. Đai rừng phòng hộ ven biển được giao cho ban quản lý rừng hoặc đơn vị nhà nước. Nhiều đoạn được giao khoán cho hộ gia đình chăm sóc, bảo vệ.
Nhận khoán có quyền gì. Tuỳ hợp đồng và quy định từng thời kỳ, hộ nhận khoán có thể được khai thác thủy sản tự nhiên dưới tán theo cách không hại rừng, được tỉa thưa theo kế hoạch, nhận tiền khoán bảo vệ. Chi tiết nằm trong hợp đồng khoán, không giống nhau giữa các nơi.
Những việc bị cấm. Chặt cây, đào ao, lấn chiếm làm vuông tôm, xây dựng trái phép trong rừng phòng hộ là vi phạm, có thể bị xử phạt và buộc khôi phục. Khi mua bán đất ven biển, nên kiểm tra kỹ thửa đất có lấn vào rừng phòng hộ hay không.
Khi thấy vi phạm. Người dân có thể báo cho trưởng ấp, xã hoặc lực lượng kiểm lâm, bảo vệ rừng. Ghi lại vị trí và thời điểm giúp việc kiểm tra nhanh hơn.
Rừng ven biển Bạc Liêu khác rừng đước Cà Mau thế nào
Người ở xa hay nghĩ rừng ven biển Bạc Liêu giống rừng đước mênh mông ở Ngọc Hiển, Năm Căn của Cà Mau cũ. Thật ra khác khá nhiều. Rừng ở mũi Cà Mau là vùng rừng ngập mặn rộng lớn, có cả những khu bảo tồn, vườn quốc gia, trải sâu vào đất liền qua mạng sông rạch chằng chịt. Rừng ở Bạc Liêu chủ yếu là một đai hẹp chạy dọc đê, kẹp giữa biển và vùng nuôi tôm.
Vì hẹp, đai rừng ở đây nhạy cảm hơn với sạt lở: mất vài chục mét là chạm đê. Nhưng cũng vì nằm sát vùng sản xuất, nó gắn trực tiếp với sinh kế của hàng nghìn hộ nuôi tôm, làm muối phía sau. Từ 7/2025, cả hai vùng rừng thuộc cùng một tỉnh Cà Mau mới, nên nhiều người kỳ vọng việc quản lý, trồng lại rừng dọc toàn bộ bờ biển bán đảo sẽ có kế hoạch liền mạch hơn.
Khi đọc tài liệu, nên để ý các số liệu “diện tích rừng ngập mặn tỉnh Cà Mau” từ sau 7/2025 đã gộp cả phần Bạc Liêu cũ, không còn so sánh trực tiếp được với số liệu cũ của từng tỉnh.
Đi xem rừng ven biển: một buổi sáng đúng cách
Muốn thấy đai rừng ven biển Bạc Liêu mà không làm hại rừng và không tự đặt mình vào nguy hiểm, có thể theo trình tự đơn giản này:
- Xem lịch thủy triều hôm trước. Đi lúc triều rút sẽ thấy rễ mắm, rễ đước và bãi bùn rõ nhất; đi lúc triều lên sẽ thấy rừng đứng giữa nước.
- Chọn đoạn đê có đường đi tốt, hỏi người dân ven đê đoạn nào rừng còn dày. Ra đê từ sáng sớm, lúc chim còn kiếm ăn và nắng chưa gắt.
- Đi trên mặt đê, nhìn xuống rừng từ trên cao. Mang ống nhòm nếu muốn xem chim; không cần xuống bùn mới thấy được rừng.
- Nếu muốn vào sâu, chỉ đi theo người địa phương hoặc người của đơn vị quản lý, theo lối có sẵn, mang ủng hoặc giày bó chân, quay ra trước giờ triều lên.
- Không hái trái, bẻ cành, không để lại rác; nếu thấy rác nhựa vướng trên rễ cây gần lối đi, nhặt mang ra là việc nhỏ nhưng có ích.
Một buổi sáng như vậy đủ để thấy cả trình tự rừng từ bãi trần tới rừng già, và đủ để hiểu vì sao người ven biển coi dải cây này là con đê thứ hai của họ.
Câu hỏi thường gặp
Có thể vào tham quan rừng phòng hộ ven biển Bạc Liêu không?
Đi dọc đê và nhìn rừng từ trên đê thì thoải mái. Vào sâu trong rừng phòng hộ nên đi cùng người địa phương hoặc hỏi đơn vị quản lý, vì bùn sâu, triều lên nhanh và có khu vực hạn chế. Không mang lửa, không xả rác, không bẻ cây.
Cây mắm và cây đước khác nhau thế nào khi nhìn bằng mắt?
Mắm thường thấp hơn, tán tròn, lá xám xanh, dưới gốc là rừng rễ thở nhỏ nhô thẳng từ bùn. Đước cao, thân thẳng, lá xanh bóng, gốc có rễ chống hình vòng cung xoè ra quanh thân. Mắm đứng ngoài, đước đứng trong là trật tự thường gặp.
Trái bần ăn được không?
Ăn được. Trái bần chín có vị chua, người miền Tây dùng nấu canh chua, làm mắm bần hoặc chấm muối ớt. Bần mọc chủ yếu ven sông rạch nước lợ chứ không phải ngoài cùng bãi biển. Hái bần ven sông nhà người khác hay trong rừng phòng hộ thì nên hỏi trước.
Rừng phòng hộ có bị cho thuê để nuôi tôm không?
Rừng phòng hộ không được chuyển thành ao nuôi. Một số mô hình kết hợp tôm – rừng ở vùng rừng sản xuất của Cà Mau cũ cho nuôi dưới tán trong tỉ lệ nhất định, nhưng đó là rừng sản xuất, khác rừng phòng hộ ven biển. Mọi trường hợp đào ao trong đai phòng hộ đều cần kiểm tra.
Có thể góp sức trồng rừng ngập mặn không?
Có. Một số tổ chức, đoàn thể và chương trình môi trường định kỳ tổ chức trồng rừng ven biển bán đảo Cà Mau. Nên tham gia qua chương trình có đơn vị quản lý rừng đứng ra, vì họ chọn đúng vị trí, đúng loài, đúng mùa và có người chăm sóc sau trồng.
Mùa nào mắm, đước ra trái?
Thời điểm ra hoa, kết trái thay đổi theo loài và năm. Nhìn chung nhiều loài cây ngập mặn ở đồng bằng ra trái rộ trong khoảng mùa mưa, trái rơi xuống và trôi theo nước. Người trồng rừng thường thu trụ mầm vào lúc chúng chín để ươm hoặc cắm thẳng xuống bãi.