Bạc Liêu là vùng đất được khai phá muộn so với phần lớn Nam Bộ. Đến giữa thế kỷ 19, nơi đây phần nhiều vẫn là bưng biền, rừng ngập mặn và bãi bồi, dân cư tập trung trên các giồng đất cao và ven sông rạch. Bước ngoặt đến vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khi chính quyền thuộc địa dùng máy xáng đào các tuyến kênh lớn, mở đường nước cho ghe chở lúa và cho người khẩn hoang. Trong vài chục năm, vùng ruộng mở ra nhanh, Bạc Liêu thành một trong những nơi xuất lúa lớn của Nam Kỳ.
Cùng với ruộng là một cấu trúc xã hội đặc biệt: những đại điền chủ đứng tên hàng nghìn mẫu đất và đông đảo tá điền làm thuê, nộp tô. Phần lớn những câu chuyện về giàu sang của Bạc Liêu xưa, cũng như những vụ tranh chấp đất dữ dội, đều bắt rễ từ đây.
Bài này giải thích cơ chế: vì sao đất mở muộn, kênh xáng thay đổi điều gì, đất được chia thế nào, và ngày nay còn thấy dấu vết ở đâu. Những con số như diện tích, sản lượng, năm đào từng tuyến kênh được giữ ở mức khái quát, vì các nguồn ghi không thống nhất.
Vì sao Bạc Liêu được khai phá muộn
Xa trung tâm. Trong thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, các trung tâm của Nam Bộ nằm ở Gia Định, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Hà Tiên. Vùng cực nam bán đảo cách xa những nơi đó, đường đi chủ yếu bằng sông rạch quanh co, ít ai tìm đến nếu không có lý do đặc biệt.
Đất và nước khó. Phần lớn đất thấp, ngập theo mùa, nhiễm mặn ở phía biển, nhiễm phèn ở vùng trũng. Không có hệ thống kênh dẫn và thoát nước thì trồng lúa rất bấp bênh. Người đến trước chọn các giồng cát cao, ven sông có nước ngọt theo mùa để lập xóm và lập vườn.
Rừng và bưng. Rừng ngập mặn ven biển và bưng sậy nội đồng vừa là nguồn sống (cá, tôm, củi, lá) vừa là trở ngại cho việc mở ruộng quy mô. Phát rừng, đắp bờ cần nhiều nhân công và vốn, những thứ chỉ đến khi có thị trường lúa gạo đủ lớn.
Cư dân thưa. Trước làn sóng khẩn hoang lớn, cư dân gồm các cộng đồng Khmer trên giồng đất, một số xóm người Việt và người Hoa ven sông, cửa biển. Mật độ thấp nghĩa là chưa có sức ép phải mở đất mới.
Ba cộng đồng chia nhau không gian sống
Một cách nhìn hữu ích về Bạc Liêu thời khẩn hoang là theo độ cao của đất. Trên các giồng đất cao phía bắc, quanh vùng Vĩnh Lợi, Châu Thới cũ, là phum sóc của người Khmer với chùa, vườn và ruộng trên đất cao. Ven sông, cửa biển và các điểm chợ là nơi người Hoa lập tiệm, lập vựa, mở lò, làm trung gian mua bán lúa, muối, cá. Dưới thấp, ở vùng bưng biền vừa được kênh xáng mở ra, là ruộng của người Việt đi khẩn hoang từ các tỉnh miền Tây phía trên xuống.
Sự phân bố này không cứng nhắc, nhưng nó giải thích nhiều điều ngày nay: vì sao chùa Khmer tập trung ở một số xã nhất định, vì sao chợ và phố cũ mang dấu ấn người Hoa, vì sao vùng ruộng lúa phía bắc có nhiều làng người Việt lập từ cuối thế kỷ 19.
Ba cộng đồng gắn với nhau qua chuỗi lúa gạo: người làm ruộng bán lúa cho thương lái, lúa theo ghe về nhà máy xay của người Hoa, gạo ra cảng. Muối, cá khô, tôm khô cũng theo những con đường ấy. Chính sự gắn kết kinh tế này làm nên tính cách cởi mở, pha trộn mà người ta hay nói về người Bạc Liêu.
Dấu vết của sự pha trộn ấy còn trong bữa ăn, trong giọng nói có nhiều từ mượn tiếng Hoa và tiếng Khmer, trong những gia đình mà ông nội người Hoa, bà ngoại người Khmer, cha mẹ nói tiếng Việt. Khi tìm hiểu lịch sử một xóm cụ thể, hỏi xem xóm ấy ban đầu là của cộng đồng nào thường mở ra được cả một mạch chuyện: vì sao chùa đặt ở đó, vì sao chợ họp ở đó, vì sao ruộng chia theo kiểu đó.
Xáng múc là gì và kênh xáng thay đổi điều gì
Xáng múc là máy đào chạy bằng hơi nước đặt trên xà lan, dùng gàu múc đất dưới lòng nước đổ lên bờ. Người Pháp đưa loại máy này vào Nam Kỳ để đào kênh quy mô lớn mà sức người không làm nổi. Kênh do xáng đào được gọi là kênh xáng, thường thẳng, rộng và sâu hơn hẳn rạch tự nhiên. Đất múc lên đổ thành bờ cao hai bên, về sau thành đường đi bộ, rồi thành lộ, và nhà cửa mọc dọc theo bờ ấy.
Ở vùng Bạc Liêu, những tuyến được nhắc nhiều là kênh xáng nối Bạc Liêu với Cà Mau và tuyến kênh lớn Quản Lộ – Phụng Hiệp chạy từ phía Hậu Giang xuống. Năm khởi đào và hoàn thành của từng tuyến được các tài liệu ghi khác nhau, chủ yếu trong khoảng đầu thế kỷ 20.
Tác động của kênh xáng có ba mặt. Về giao thông, ghe lớn chở lúa đi được quanh năm, nối vùng ruộng với nhà máy và cảng. Về thủy lợi, kênh dẫn nước, thoát nước, giúp mở ruộng ở vùng trước kia ngập úng; nhưng cũng đưa mặn vào sâu hơn ở nơi gần biển. Về dân cư, mỗi chỗ hai kênh gặp nhau sinh ra một chợ, một xóm, nhiều nơi về sau thành thị trấn. Không quá lời khi bảo rằng bản đồ dân cư Bạc Liêu ngày nay phần lớn được vẽ theo bản đồ kênh xáng.
Đất được chia thế nào: điền chủ và tá điền
Cấp đất theo đơn. Chính quyền thuộc địa cho phép xin khẩn đất hoang theo thủ tục giấy tờ. Ai có vốn, biết chữ, có quan hệ với bộ máy thì dễ được cấp những khu đất rất rộng, có khi vượt xa khả năng tự canh tác của họ.
Tá điền làm, điền chủ thu tô. Người đứng tên chia đất cho tá điền khai phá và cày cấy, thu lại một phần lúa làm tô, kèm các khoản vay mượn lúa giống, tiền ăn. Nhiều tá điền mắc nợ quanh năm, phụ thuộc vào điền chủ.
Đất khai trước, giấy tờ sau. Không ít trường hợp người nghèo đã phát đất, làm ruộng nhiều năm mà không lo đứng bộ; đến khi có người khác làm đơn xin cấp chính khu đất ấy thì họ thành người làm thuê trên ruộng mình. Đây là mầm của những vụ tranh chấp đẫm máu, tiêu biểu là sự kiện đồng Nọc Nạng ở Giá Rai năm 1928.
Giàu có tập trung. Tầng lớp đại điền chủ Bạc Liêu giàu lên nhanh, xây dinh thự, cho con đi học Pháp, để lại những giai thoại về lối sống xa hoa mà đến nay vẫn được kể, dù nhiều chi tiết là thêu dệt.
Lúa, muối và những con đường ra thị trường
Kinh tế Bạc Liêu thời Pháp xoay quanh vài mặt hàng chính, đi theo những con đường khá rõ:
- Lúa gạo: lúa từ ruộng gom về các vựa ven kênh, chở bằng ghe chài về nhà máy xay ở Bạc Liêu và các đô thị lớn hơn, rồi theo đường thủy về Chợ Lớn để xuất khẩu.
- Muối: làm trên ruộng muối ven biển phía đông, thu mua qua mạng lưới thương nhân, chịu sự quản lý chặt của nhà nước thuộc địa đối với việc buôn bán muối.
- Cá, tôm khô: từ các cửa biển như Gành Hào, phơi khô rồi bán đi các tỉnh và ra nước ngoài qua thương nhân người Hoa.
- Hàng hoá vào: vải, dầu, đồ dùng, nông cụ theo chiều ngược lại vào tận các chợ ngã ba kênh.
Mỗi con đường này đều đi bằng nước. Đó là lý do người Bạc Liêu xưa đo khoảng cách bằng con nước, bằng số giờ chèo ghe, chứ không bằng cây số như bây giờ.
Dấu vết thời khẩn hoang còn thấy hôm nay
Dễ thấy nhất là các con kênh thẳng và những chợ ở ngã ba, ngã tư kênh. Đi dọc Quốc lộ 1 hay các đường ven kênh lớn, bạn sẽ gặp những xóm nhà chạy dài theo bờ, mặt quay ra nước: đó là bờ đất do xáng múc đổ lên từ một trăm năm trước.
Dấu vết thứ hai là kiến trúc. Một số dinh thự của các gia đình điền chủ, nhà máy xay cũ, kho lúa cũ vẫn còn ở khu đô thị và dọc các kênh. Phần lớn đã xuống cấp hoặc đổi công năng, nhưng vẫn nhận ra qua tường dày, cửa cao, mái ngói kiểu cũ.
Dấu vết thứ ba nằm trong ký ức gia đình. Rất nhiều gia đình ở vùng ruộng Bạc Liêu có ông bà, cố là người đi khẩn hoang từ nơi khác đến, hoặc từng làm tá điền. Chuyện “ông cố xuống đây phát đất”, “nhà mình mất ruộng vì không có bằng khoán” là những mảnh lịch sử thật, đáng được ghi lại trước khi mất. Một buổi chiều ngồi nghe ông bà kể, ghi lại tên người, tên kênh, năm tháng, có khi giá trị hơn nhiều trang sách chép lại từ nhau.
Hiểu lầm thường gặp về Bạc Liêu thời khẩn hoang
Những câu dưới đây hay xuất hiện khi người ta kể về “Bạc Liêu xưa”. Đối chiếu với những gì tài liệu cho thấy:
| Câu hay nghe | Thực tế |
|---|---|
| “Bạc Liêu giàu vì đất tốt sẵn” | Đất phần lớn khó canh tác; giàu có đến từ việc đào kênh, mở ruộng và chuỗi buôn bán lúa gạo, muối |
| “Người Việt là cư dân đầu tiên” | Trước làn sóng khẩn hoang lớn đã có phum sóc Khmer, xóm Hoa và dấu vết cư dân cổ quanh tháp Vĩnh Hưng |
| “Điền chủ nào cũng là người khai phá” | Nhiều đại điền chủ đứng tên đất qua thủ tục xin cấp, công khai phá phần lớn do tá điền làm |
| “Kênh xáng chỉ có lợi” | Kênh mở giao thông và ruộng lúa, nhưng cũng đưa mặn vào sâu, làm thay đổi hệ sinh thái ven biển |
| “Chuyện công tử là bức tranh chung của Bạc Liêu” | Đó là đời sống của một nhóm rất nhỏ; đa số cư dân là nông dân, tá điền, diêm dân, ngư dân |
Cột “thực tế” không nhằm hạ thấp những câu chuyện quen thuộc, mà để đặt chúng vào đúng tỷ lệ. Một vùng đất được làm nên bởi hàng chục nghìn người vô danh cầm phảng, đẩy xuồng, cào muối, không chỉ bởi vài gia đình giàu có nổi tiếng.
Khi giới thiệu Bạc Liêu với khách, kể thêm một câu về những người ấy sẽ làm câu chuyện đầy đặn và đúng hơn.
Câu hỏi thường gặp
Kênh xáng Bạc Liêu – Cà Mau bây giờ còn dùng không?
Tuyến kênh này vẫn là một trục đường thủy và thủy lợi quan trọng của vùng, dù vai trò chở hàng đã giảm nhiều so với khi đường bộ phát triển. Hai bên bờ là nơi tập trung dân cư, và nhiều đoạn chạy song song với Quốc lộ 1.
Ông bà làm tá điền thời Pháp thì có giấy tờ gì để lại không?
Tá điền thường không đứng tên đất nên ít có giấy tờ đất. Dấu vết có thể nằm trong sổ bộ đinh của làng, giấy vay lúa, hoặc trong hồ sơ của điền chủ. Phần lớn chỉ còn trong lời kể của gia đình, nên càng cần ghi lại sớm.
Đất của điền chủ sau này đi đâu?
Qua các cuộc cải cách ruộng đất của những chính quyền khác nhau trong thế kỷ 20 và các đợt điều chỉnh sau 1975, ruộng đất của đại điền chủ dần được chia lại cho người canh tác. Quá trình này phức tạp, mỗi nơi một khác, nên khi tìm hiểu cụ thể cần đọc tài liệu chuyên khảo.
Vì sao kênh xáng lại làm mặn vào sâu hơn?
Kênh rộng, thẳng, nối ra biển hay ra sông lớn giúp nước chảy nhanh hơn, nên vào mùa khô, nước mặn theo triều cũng theo kênh lấn sâu vào nội đồng. Về sau người ta phải làm cống, đê để điều tiết, và cách vận hành cống trở thành chuyện lớn của vùng.
Muốn thấy dinh thự điền chủ xưa ở Bạc Liêu thì đi đâu?
Nơi nổi tiếng nhất là ngôi nhà gắn với gia đình công tử Bạc Liêu ở khu trung tâm ven sông. Ngoài ra, đi bộ quanh khu phố cũ và dọc bờ sông, bạn sẽ thấy thêm một số nhà cổ. Nên hỏi trước nơi nào mở cửa đón khách, nơi nào là nhà ở riêng.